Xe tăng T-34
Xe tăng T-34

Xe tăng T-34

Xe tăng T–34 là một xe tăng hạng trung sản xuất bởi Liên Xô từ năm 1940 đến năm 1958, chủ yếu được sử dụng trong chiến tranh Xô-Đức (1941-1945). T-34 đã cách mạng hoá cách thức thiết kế và chế tạo xe tăng trên thế giới; mặc dù về giai đoạn sau chiến tranh có nhiều xe tăng mang giáp trụ và hỏa lực trội hơn T-34, nó vẫn được đánh giá là loại xe tăng hiệu quả nhất và có thiết kế gây ảnh hưởng lớn nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai[2].Trong thế chiến thứ 2, T-34 là một trong những loại xe tăng có sự phối hợp tốt nhất giữa tính năng bảo vệ, tính cơ động, hỏa lực và độ tin cậy và khả năng bảo trì của xe; nó cũng là một trong những mẫu thiết kế có thời hạn phục vụ lâu nhất, một số chiếc hiện vẫn còn được sử dụng. Ở thời kỳ đầu chiến tranh, T-34 vượt trội hơn hẳn xe tăng Panzer III, Panzer IV của Đức về cả hỏa lực và vỏ giáp, tuy nhiên những lợi thế này bị hạn chế nhiều do thiếu hệ thống liên lạc bộ đàm và các tổ lái Liên Xô khi đó còn thiếu kinh nghiệm chiến thuật. Hệ thống tháp pháo hai người điều khiển - khá phổ biến ở xe tăng thời đó - khiến người xa trưởng phải kiêm luôn nhiệm vụ nạp đạn và nó tỏ ra kém hiệu quả hơn hệ thống tháp pháo ba người (xa trưởng, pháo thủ và người nạp đạn). Những điểm yếu này đã được các nhà thiết kế khắc phục ở phiên bản nâng cấp T-34/85.T–34 là loại xe có buồng lái chật hẹp, nó bị đánh giá kém về mức độ tiện nghi cho kíp chiến đấu 4 người. T–34 cũng bị coi là quá ồn nên có thể bị phát hiện trong đêm từ khoảng cách 450 đến 500m, vì vậy lính Đức sẽ có được những cảnh báo sớm về vị trí của xe tăng đối phương. Giá trị cao nhất của T–34 là thiết kế hiệu quả cao, giúp việc chế tạo rất dễ dàng và dễ sửa chữa. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã ghi nhận nhiều trường hợp T–34 bị bắn bay mất tháp pháo vẫn dễ dàng được sửa chữa trong điều kiện dã chiến, chỉ cần vài giờ lắp tháp pháo mới là xe lại tham gia chiến đấu được ngay. Xe cũng khá nhẹ và động cơ diesel làm mát bằng nước làm tăng độ tin cậy của động cơ cũng như tăng khoảng cách hoạt động của xe. Tốc độ của T–34 cũng là một lợi thế chính yếu so với các xe tăng Đức: Tốc độ tối đa trung bình của các xe tăng Đức là 25 dặm (khoảng 40 km)/giờ trong khi tốc độ tối đa của T–34 là 32 dặm (khoảng 50 km)/giờ. Vỏ thép nghiêng cũng giúp cho T–34 có được sự bảo vệ tốt chống lại đạn pháo Đức, thiết kế này hiệu quả đến nỗi Đức đã copy lại để áp dụng trên loại xe tăng Panther (Con Báo) và Tiger II (Vua Cọp).Ưu điểm lớn nhất của xe T-34 chính là thiết kế rất dễ sản xuất của nó: Liên Xô có thể chịu đựng được mức tổn thất lớn của T-34 trên chiến trường vì hệ thống nhà máy của họ cho phép sản xuất rất nhanh hàng nghìn chiếc khác. Trong khi xe tăng của Đức đòi hỏi nhiều giờ công lao động, chi phí và thợ lành nghề để chế tạo, xe T-34 có thể được chế tạo với các thiết bị đơn giản và thợ cơ khí bậc trung. Các nhà máy T-34 nằm sâu sau dãy Ural nơi không bị ảnh hưởng của các cuộc ném bom của không quân Đức và có thể tăng công suất sản xuất hỗ trợ cho nhau để bù cho số bị thiếu hụt khi một nhà máy gặp vấn đề. Với cùng một chi phí, phía Đức sản xuất được 1 xe tăng Tiger thì phía Liên Xô có thể sản xuất 7-8 xe T-34. Do đó trong chiến trận phía Đức phải tiêu diệt được 7-8 xe tăng T-34 với mức tổn thất 1 xe tăng Tiger của mình thì mới có cơ hội thay đổi được so sánh lực lượng có lợi về phía mình[cần dẫn nguồn], tỷ lệ này phía Đức không thể nào có thể đạt được. Thành phố Cheliabinsk (Челябинск) tại vùng núi Ural Nga là nơi sản xuất chính loại xe tăng này nhiều đến nỗi thành phố này được gọi là Tankograd (танкоград)- thành phố xe tăng. Tổng cộng gần 58.000 chiếc T-34 đã được sản xuất trong Thế chiến 2, nhiều hơn bất kỳ loại xe tăng nào khác.Xe tăng T-34 liên tục được cải tiến trong suốt cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại nhằm tăng tính hiệu quả và giảm giá thành, điều này khiến càng lúc càng nhiều xe tăng T-34 được tung ra mặt trận. Đầu năm 1944, T-34 được trang bị pháo 85 mm hỏa lực mạnh hơn, cho phép nó có thể chiến đấu ngang cơ với loại Tiger ở cự ly gần; cùng với vỏ thép tốt hơn; tháp pháo ba người, phẳng hơn biến nó thành mục tiêu có kích thước nhỏ hơn. Kiểu này được gọi là xe tăng T-34/85. Cho đến cuối cuộc chiến, dòng tăng T-34 linh loạt và giá thành thấp đã thay thế nhiều loại xe tăng hạng nhẹ và hạng trung của Liên Xô, trở thành loại xe tăng được sản xuất chủ yếu trong quân đội Liên Xô lúc đó và cũng là loại xe tăng chủ lực của Liên Xô trong suốt Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Trên cơ sở khung thân của T-34, Liên Xô cũng chế tạo một loạt các thiết kế pháo tự hành rất thành công gồm SU-85, SU-100SU-122. Thiết kế cách mạng của T-34 cũng đã dẫn tới việc thiết kế và sản xuất dòng xe tăng lừng danh T-54/55.T-34 là loại xe tăng được sản xuất nhiều nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai và là xe tăng sản xuất nhiều thứ nhì trên thế giới, sau dòng T-54/55. Tới năm 2010, các xe tăng T-34 vẫn còn được phục vụ trong ít nhất là 27 quốc gia và một số nước sẽ còn tiếp tục sử dụng nó cho tới giữa thế kỷ 21, đưa nó trở thành loại xe tăng có thời gian phục vụ lâu nhất từ trước tới nay.

Xe tăng T-34

Kíp chiến đấu 4 (5 với những chiếc có điện đài)
Nơi chế tạo Liên Xô
Người thiết kế KMDB - phòng thiết kế chính của T-34
Số lượng chế tạo 84070 chiếc
Tầm hoạt động 400 km (250 dặm)
Chiều dài 6,68 m (21.9 feet)
Chiều rộng 3,00 m (9.8 feet)
Tốc độ 53 cây số/giờ (33 mph)
Loại xe tăng hạng trung
Hệ thống treo Christie
Năm thiết kế 1937–40
Vũ khíchính pháo tăng F-34 76,2 ly (3.00 inch)
Sử dụng bởi  Liên Xô
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
 Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
 Việt Nam
 Trung Quốc
 Cuba
 Lào
 Armenia
 Belarus
 Kazakhstan
 Tiệp Khắc
 Cộng hòa Séc
 Đông Đức
 Ba Lan
 Mông Cổ
 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và 39 quốc gia khác
Khối lượng 26,5 tấn (29.2 tấn Mỹ)
Phương tiện bọc thép Mặt trước thân xe: 47mm nghiêng 60 độ
Mặt trước tháp pháo:
52mm nghiêng 50 độ (phiên bản T-34 Model 1941)
90mm nghiêng hình bán cầu (phiên bản T-34/85)
Giai đoạn sản xuất 1940–58
Cuộc chiến tranh Chiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Sự kiện năm 1956 ở Hungary
Sự kiện Vịnh Con Lợn
Chiến tranh Sáu ngày
Chiến tranh Yom Kippur
Các cuộc xung đột ở châu Phi
Chiến tranh Việt Nam
Chiến tranh Bosnia
Nội chiến Syria
Nội chiến Yemeb
Phục vụ 1940–nay
Chiều cao 2.45 m (8.0 feet)
Công suất/trọng lượng 17,5 mã lực/tấn
Động cơ động cơ diesel 12 xilanh mẫu V-2
500 hp (370 kW)
Vũ khíphụ 2 đại liên DT 7.62 ly (0.308 inch)

Tài liệu tham khảo

WikiPedia: Xe tăng T-34 http://www.achtungpanzer.com/t34.htm http://tankarchives.blogspot.com/2013/03/soviet-85... http://www.missing-lynx.com/articles/russia/rpt34/... http://www.soviet-empire.com/arsenal/army/tanks/t3... http://www.wwiivehicles.com/ussr/tanks-medium/t-34... http://www.wwiivehicles.com/ussr/tanks-medium/t-34... http://www.youtube.com/watch?v=fVg6gFmuRlE http://www.youtube.com/watch?v=uM4K_IIwbaw http://digital.library.unt.edu/ http://digital.library.unt.edu/permalink/meta-dc-1...