Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi

Nguyễn TrãiNguyễn Trãi (chữ Hán: 阮廌, 138019 tháng 9 năm 1442), hiệu là Ức Trai (抑齋), là một nhà chính trị, nhà văn, nhà quân sự lỗi lạc, người đã tham gia tích cực Khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại sự xâm lược của nhà Minh (Trung Quốc) với Đại Việt. Khi cuộc khởi nghĩa thành công vào năm 1428, Nguyễn Trãi trở thành khai quốc công thần của triều đại quân chủ nhà Hậu Lê trong Lịch sử Việt Nam.[2]Nguyễn Trãi có cha là Nguyễn Phi Khanh, con rể của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, nhà Trần. Khi nhà Trần bị Hồ Quý Ly lật đổ lập nên nhà Hồ, Nguyễn Trãi tham gia dự thi, thi đỗ Thái học sinh năm 1400, Nguyễn Trãi làm quan dưới triều Hồ với chức Ngự sử đài chính chưởng. Khi nhà Minh xâm lược, cha ông là Nguyễn Phi Khanh bị bắt giải về Trung Quốc. Sau khi nước Đại Ngu rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại sự thống trị của nhà Minh. Ông trở thành mưu sĩ của nghĩa quân Lam Sơn, đề ra chiến lược cũng như soạn thảo các văn thư ngoại giao với quân Minh.[3] Ông tiếp tục phục vụ dưới triều đại vua Lê Thái TổLê Thái Tông với chức vụ Nhập nội hành khiển và Thừa chỉ.Năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị kết án tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu ân xá cho ông.[3] Nguyễn Trãi là một nhà văn hoá lớn, có đóng góp to lớn vào sự phát triển của văn học và tư tưởng Việt Nam. Ông nằm trong danh sách 14 anh hùng dân tộc Việt Nam.

Nguyễn Trãi

Sinh 1380
Thăng Long, Đại Việt
Vợ/chồng 5 vợ
Tác phẩm nổi bật Bình Ngô đại cáo, Quốc âm thi tập, Quân trung từ mệnh tập, Dư địa chí
Dân tộc Kinh
Quốc tịch Việt Nam
Mất 19 tháng 9, 1442[1]
Thể loại Thơ, Cáo, Chiếu, Biểu, Tấu
Học vấn Thái học sinh (Tiến sĩ)
Con cái 7 con trai
Giai đoạn sáng tác Văn học trung đại Việt Nam
Công việc Nhà văn, Nhà chính trị, Nhà thơ, Nhà địa lý học, Nhà ngoại giao
Tư cách công dân Việt Nam
Thân nhân Nguyễn Phi Khanh (cha)
Bút danh Ức Trai