Chiến_tranh_Nguyên-Nhật

Nhật Bản Đế quốc Mông Cổ • Kim • Tống (trận Tương Dương • trận Nhai Môn) • Đại Lý
Trung Á (Tây Liêu • Khwarezmia) • Ấn Độ • Volga Bulgaria
châu Âu (Rus' • Ba Lan • Hungary • Dzurdzuketia • Bulgaria) • Cao Ly • Ngoại Kavkaz • Tây Tạng • Tiểu Á • Syria • Đại Việt (1258 • 1285 • 1287-1288 • trận Bạch Đằng)
Mông Cổ xâm lược Nhật Bản (元寇 (Nguyên khấu), Genkō?), diễn ra năm 1274 và năm 1281, là những nỗ lực quân sự quy mô lớn do Hốt Tất Liệt của Đế quốc Mông Cổ tiến hành nhằm chinh phục quần đảo Nhật Bản sau khi Cao Ly quy phục làm chư hầu. Kết quả cuối cùng là quân Mông Cổ phải gánh chịu những thất bại nặng nề sau hai lần xâm lược và buộc phải từ bỏ ý định chinh phục Nhật Bản. Những nỗ lực xâm lược có tầm quan trọng lịch sử vĩ mô bởi vì nó đặt ra một giới hạn cho việc bành trướng của người Mông Cổ và được xếp hạng như các sự kiện xác định quốc gia trong lịch sử Nhật Bản.Cuộc xâm lược của Mông Cổ vào Nhật Bản là một trong những trường hợp sớm nhất của chiến tranh thuốc súng bên ngoài Trung Quốc và được coi là tiền thân của chiến tranh thời kỳ đầu hiện đại. Một trong những phát minh công nghệ đáng chú ý nhất trong cuộc chiến này là sử dụng bom nổ ném bằng tay.[10]Cuộc xâm lăng được đề cập đến trong nhiều tác phẩm hư cấu, và là sự kiện sớm nhất mà từ kamikaze ("thần phong") được sử dụng rộng rãi, có nguồn gốc từ hai cơn bão mà đội quân Mông Cổ đã phải hứng chịu.